Bài giảng Tiếng Việt 4 - Đánh giá giữa học kì II

pptx 20 trang Ngọc Bích 25/12/2025 140
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Tiếng Việt 4 - Đánh giá giữa học kì II", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Tiếng Việt 4 - Đánh giá giữa học kì II

Bài giảng Tiếng Việt 4 - Đánh giá giữa học kì II
 I. Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi.
 CON RẮN VUÔNG
 Anh chàng nọ tính khoác lác đã quen. Bữa kia đi chơi về bảo vợ:
 – Này mình ạ! Hôm nay tôi đi vào rừng trông thấy một con rắn, chao ôi, to đến là to, dài đến là dài. 
Bề ngang thì chắc chắn là bốn mươi thước rồi, còn bề dài thì dễ đến hơn trăm thước.
Vợ không tin nhưng tính trêu chồng một mẻ:
 – Tôi nghe người ta nói có rắn dài đã nhiều. Nhưng làm gì có giống rắn dài như mình nói thế. Tôi 
nhất định không tin.
 Chồng làm như thật:
 – Thật quả có rắn như thế! Dài hơn một trăm thước thì chẳng đến, nhưng tám mươi thì nhất định.
 Vợ lắc đầu:
 – Cũng chẳng đến!
 Chồng cương quyết:
 – Tôi chắc chắn là nó dài sáu mươi thước chứ không ngoa.
 Vợ vẫn khăng khăng:
 – Vẫn không dài đến mức ấy đâu!
 Chồng rút lui một lần nữa:
 – Lần này tôi nói thật nhé! Con rắn dài đến bốn mươi thước, không kém một phân.
 Vợ bò lăn ra cười:
 – Con rắn mình thấy, bề ngang đã chắc chắn là bốn mươi thước, bề dài cũng lại bốn mươi thước 
không kém một phân, thì chẳng hoá ra là con rắn vuông à? 
 (Theo Truyện cười dân gian Việt Nam) Đơn vị đo độ dài cũ (khoảng 
Thước nửa mét). 1. Em có suy nghĩ gì khi 
 đọc tên câu chuyện? 
Em cảm thấy lạ và tò mò 
sau khi đọc tên câu chuyện. 
Vì trên thực tế, không có 
con rắn nào hình vuông cả. 2. Chi tiết nào trong câu 
 chuyện gây cười? 
Chi tiết gây cười là chi tiết người 
vợ bóc trần lời nói dối khiến 
người chồng tự nhận ra cái vô lí 
của mình ở câu cuối. 3. Câu chuyện muốn phê 
 phán tính xấu nào? 
Câu chuyện muốn phê 
phán tính khoác lác, 
bốc phét quá đà. II. Đọc hiểu
 NGƯỜI NÔNG DÂN VÀ CON CHIM ƯNG
 Ngày xửa ngày xưa, ở một vùng núi nọ, có một bác nông dân hiền lành, tốt bụng, được mọi 
 người yêu quý. Một ngày kia, trong lúc đi làm nương, bác trông thấy một con chim ưng bị thương 
 nặng, nằm bẹp ở bìa rừng. Bác đỡ nó lên và vỗ về nó:
 – Tao không muốn các con mày phải chịu khổ đâu, hãy mau lành để trở về với trời xanh đi!
 Bác nông dân mang con chim ưng bị thương về nhà, tận tình chăm sóc, chữa chạy vết thương 
 cho nó. Chẳng bao lâu, chim ưng khoẻ trở lại, bác nông dân thả cho chim trở về với bầu trời bao 
 la.
 Một hôm, sau khi làm việc quần quật, bác nông dân tựa lưng vào một bức tường để nghỉ cho 
 lại sức, rồi thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng một con chim ưng từ đâu bay tới, quắp chiếc mũ của 
 bác bay đi. Bác nông dân giật mình tỉnh giấc, đuổi theo chim để lấy lại mũ. Bác phát hiện ra đó 
 chính là chú chim ưng mà mình đã cứu ngày nào. Vừa đuổi theo chim, bác vừa hét to:
 – Này chim ưng, ta đã cứu mày, sao mày lại trêu chọc ta?
 Bác chạy đuổi theo chim ưng một đoạn cách khá xa bức tường rào, nó mới chịu buông trả chiếc 
 mũ cho bác. Bác nông dân cúi nhặt chiếc mũ của mình thì cũng là lúc bức tường lúc nãy bác vừa 
 tựa lưng đổ ập xuống, đè nát tất cả các thứ ở bên dưới. 
 (Theo Ngụ ngôn Ê-đốp) Con chim ưng bị thương nằm ở đâu? 
A. Con chim ưng bị thương nằm ở bìa rừng. Bác nông dân đã giúp chim ưng mau lành vết 
 thương bằng cách nào? 
Bác nông dân đã giúp chim ưng mau lành vết thương 
bằng cách mang con chim ưng bị thương về nhà, tận 
tình chăm sóc, chữa chạy vết thương cho nó. Khi chim ưng khoẻ trở lại, bác nông dân đã làm gì? 
 Việc làm đó cho thấy bác là người thế nào?
- Khi chim ưng khỏe trở lại, bác nông dân đã thả cho 
chim trở về với bầu trời bao la. 
- Việc làm đó cho thấy bác là người rất nhân hậu. Cho biết mỗi ý dưới đây đúng (Đ) hay sai (S). 
 Đ
 S
 S
 Đ
 Đ Theo em, câu chuyện muốn nói với chúng ta điều gì? 
Tìm câu trả lời đúng. 
A. Chim ưng rất thông minh.
B. Chim ưng là bạn của người.
C. Ở hiền thì gặp lành.
D. Bác nông dân rất yêu quý các loài vật. Xác định các trạng ngữ của câu sau và cho biết các 
 trạng ngữ đó bổ sung thông tin gì cho câu.
Trạng ngữ: Một ngày kia => trạng ngữ bổ sung 
thông tin về thời gian. Dựa vào nội dung câu chuyện, đặt câu có 
trạng ngữ chỉ mục đích hoặc nguyên nhân. 
 Ví dụ: Nhờ tấm lòng nhân hậu của mình, bác nông 
 dân đã thoát được một kiếp nạn.
 => Trạng ngữ chỉ nguyên nhân. Viết tiếp để tạo thành câu có vị ngữ nêu đặc 
điểm của đối tượng được nói ở chủ ngữ. 
 là một người rất nhân hậu. Chọn 1 trong 3 đề dưới đây: Bài tham khảo Đề 1
 Trong cuộc sống của chúng ta không thể nào thiếu được lòng tốt, tình yêu thương bởi nó là thứ 
tình cảm gắn kết con người gần nhau hơn. Và một trong những câu chuyện đã truyền cảm hứng 
về tình người cho em đó là câu chuyện “Tờ báo tường của tôi” của tác giả Nguyễn Luân. Câu 
chuyện đã cho chúng ta một bài học tình người vô cùng quý giá.
 Ngay từ lần đầu tiên đọc câu chuyện, em đã rất ấn tượng. Bởi câu chuyện đã đề cập bài học sâu 
sắc về tình người, giúp đỡ người khác lúc khó khăn. Không chỉ vậy, câu chuyện còn có một chi tiết 
cảm động đối với em. Đó là chi tiết mặc dù trời nhá nhem tối, khu rừng âm u nhưng cậu bé vẫn 
vượt qua nỗi sợ hãi để băng qua rừng thật nhanh vì người bị nạn. “Trời bắt đầu nhá nhem tối. 
Khu rừng âm u. Tiếng mấy con chim kêu “túc... túc...” không ngớt. Tôi chạy nhanh hơn. Gió thổi vù 
vù bên tai, bàn chân đau nhói vì giẫm lên đá răng mèo. “Phải cố lên! Người bị nạn nguy mất...”.” 
Chính nhờ sự dũng cảm, gan dạ và lòng tốt của cậu bé mà người bị nạn đã nhanh chóng được các 
chú bộ đội biên phòng cứu giúp.
 Câu chuyện “Tờ báo tường của tôi” đã truyền không chỉ cho em mà cho tất cả mọi người bài học 
về lòng tốt. Em hứa sẽ giống như cậu bé trong câu chuyện, sẵn sàng giúp đỡ người khác lúc khó 
khăn.. 

File đính kèm:

  • pptxbai_giang_tieng_viet_4_danh_gia_giua_hoc_ki_ii.pptx