Bài giảng Tiếng Việt 5 (Kết nối tri thức) - Ôn tập giữa học kì II
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Tiếng Việt 5 (Kết nối tri thức) - Ôn tập giữa học kì II", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Tiếng Việt 5 (Kết nối tri thức) - Ôn tập giữa học kì II
Thứ ngày tháng năm 1. Dựa vào lời giới thiệu của mỗi nhân vật dưới đây, cho biết nhân vật đó là ai, xuất hiện trong câu chuyện nào đã học. 1 2 3 4 5 Quang – Hộp quà màu thiên thanh. Xu-di – Giỏ hoa tháng Năm. Nai Ngọc – Tiếng hát của người đá Mát – Khu rừng của Mát Thào A Sùng – Những búp chè trên cây cổ thụ 2. Nêu nội dung chính của một trong những câu chuyện được nhắc tới ở bài tập 1. - Hộp quà Màu Thiên Thanh là câu chuyện kể với các bạn nhỏ trong một lớp học đã cùng nhau chuẩn bị một món quà vô cùng đặc biệt và ý nghĩa để tặng cô giáo. Đó là một chiếc hộp chứa những bức thư kể về kỉ niệm của các bạn nhỏ với cô. Giỏ hoa tháng 5 câu chuyện kể về một cô bé cảm thấy rất buồn vì người bạn thân của cô bé có thêm bạn mới, nhưng sau khi nghe lời khuyên của mẹ, cô bé đã tặng bạn thân một giỏ hoa vì nhận ra ai cũng cần có nhiều bạn bè. Khu rừng của Mát: truyện kể về chàng thanh niên tên Mát đã vượt qua nỗi đau đớn mất mát vì trang trại của gia đình bị sét đánh cháy rụi. Để trồng lại cây cối bù lại xanh màu xanh cho trang trại. Tiếng hát của người đá câu chuyện cổ tích kể về tiếng hát của một người đá đã giúp đuổi muôn thú phá lúa khuyên nhủ chúng trở về sống bên gia đình để dân làm được sống yên vui. Những búp chè trên cây cổ thụ câu chuyện kể về cậu bé Thào A sùng với tình yêu niềm tự hào ước mơ mãnh liệt mà cậu đã dành cho sản vật quê hương mình những búp chè trên cây cổ thụ ở bản Tà Xùa. 3. Trong đoạn văn dưới đây, câu nào là câu đơn, câu nào là câu ghép? Xác định các vế của những câu ghép vừa tìm được. (1) Mùa đông, rùa ngại rét. (2) Gió cứ thổi vù vù. (3) Rùa đợi đến mùa xuân. (4) Mùa xuân nhiều hoa, nhưng mùa xuân vẫn là đứa em của mùa đông. (5) Mưa phùn vẫn cứ lai rai và gió bấc vẫn thút thít ở các khe núi. (6) Rùa lại đợi đến hè. (7) Mùa hè tạnh ráo. (8) Cây cối có nhiều quả chín thơm tho. (9) Nhưng cái nóng cứ hầm hập. (10) Cả ngày, bụi cuốn mịt mùng. (11) Hễ cơn dông đến thì đất đá lại như sôi lên, nước lũ đổ ào ào. (Theo Võ Quảng) Câu đơn: Ø (1) Mùa đông, rùa ngại rét. Ø (2) Gió cứ thổi vù vù. Ø (3) Rùa đợi đến mùa xuân. Ø (6) Rùa lại đợi đến hè. Ø (7) Mùa hè tạnh ráo. Ø (8) Cây cối có nhiều quả chín thơm tho. Ø (9) Nhưng cái nóng cứ hầm hập. Ø 10) Cả ngày, bụi cuốn mịt mùng. Câu ghép Ø (4) Mùa xuân nhiều hoa, nhưng mùa xuân vẫn là đứa em của mùa đông. Ø (5) Mưa phùn vẫn cứ lai rai và gió bấc vẫn thút thít ở các khe núi. Ø (11) Hễ cơn dông đến thì đất đá lại như sôi lên, nước lũ đổ ào ào. Xác định các vế câu ghép trong bài Câu (4): Vế thứ nhất: mùa xuân nhiều hoa; Vế thứ hai: mùa xuân vẫn là đứa em của mùa đông. Câu (5): Vế thứ nhất: Mưa phùn vẫn cứ lai rai; Vế thứ hai: gió bấc vẫn thút thít ở các khe núi. Câu (11): Vế thứ nhất: Hễ cơn dông đến thì đất đá lại như sôi lên; Vế thứ hai: nước lũ đổ ào ào. 4. Chọn một vế câu ở A và một vế câu ở B, thêm kết từ hoặc cặp từ hô ứng để tạo câu ghép.
File đính kèm:
bai_giang_tieng_viet_5_ket_noi_tri_thuc_on_tap_giua_hoc_ki_i.pptx

