Bài giảng Tiếng Việt 5 (Kết nối tri thức) - Viết đoạn văn tả người (Tiết 3) - Năm học 2024-2025

pptx 23 trang Ngọc Bích 27/01/2026 60
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Tiếng Việt 5 (Kết nối tri thức) - Viết đoạn văn tả người (Tiết 3) - Năm học 2024-2025", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Tiếng Việt 5 (Kết nối tri thức) - Viết đoạn văn tả người (Tiết 3) - Năm học 2024-2025

Bài giảng Tiếng Việt  5 (Kết nối tri thức) - Viết đoạn văn tả người (Tiết 3) - Năm học 2024-2025
 Nêu cấu tạo bài 
 văn tả người 
 Bài văn tả người 
 gồm có 3 phần: mở 
 bài, thân bài, kết bài. Khi quan sát để viết bài văn 
tả người cần lưu ý điều gì? 
 Cần lựa chọn những chi tiết 
 tiêu biểu về ngoại hình, hoạt 
 động, sở thích,... thể hiện nét 
 riêng giúp phân biệt người 
 được tả với những người 
 khác. Thứ 4 ngày 05 tháng 02 năm 2025 1. Đọc các đoạn văn dưới đây và trả lời câu hỏi.
 a. Ông nội của Nhụ đã tám mươi tuổi, nhưng vóc người vẫn gọn và chắc, 
 dáng đi dứt khoát như một ngọn sóng. Ông có nước da nâu sẫm, ghi 
 dấu ấn của cả một đời chèo thuyền trên mặt biển. Mỗi khi kết thúc một 
 câu nói, ông thường dùng tiếng “hầy”. Đó là tiếng hô chèo thuyền của 
 người dân chài xưa lúc trời sắp có dông. Ông thường ra hiệu bằng mắt 
 và bằng tay. Ở trên biển thì đó là một điều rất bình thường. Nhưng ở 
 nhà, ông cũng “nói” theo cách đó. Dần dần, con cháu cũng quen.
 (Theo Trần Nhuận Minh) b. Mẹ dẫn tôi về thăm ngoại. Nghe tiếng tôi từ ngoài ngõ, ngoại lập 
 cập chạy ra cửa, dang hai tay đón tôi ngả vào. Ngoại mừng vui đến 
 nỗi không ngăn được những giọt nước mắt rơi trên đôi má nhăn 
 nheo. Ngoại ôm chặt tôi vào lòng, rồi ngoại dẫn tôi ra sau vườn, 
 cho tôi tự tay hái những trái bưởi, trái xoài vàng ươm trên những 
 cành chỉ la đà ngang mắt tôi. Tôi biết là ngoại để dành những trái 
 cây sà thấp xuống như thế cho tôi về hái.
 (Theo Lê Văn Trường)
c. Chị Hà là một thành viên trong đoàn thanh niên của huyện đến giúp xã tôi chống 
úng ở cánh đồng chuẩn bị cấy giống lúa mới. Trông chị thật xinh tươi: nước da 
trắng, môi hồng, tóc mai dài vắt cong lên như một dấu hỏi lộn ngược. Trên má chị 
có vài nốt tàn nhang. Mỗi khi chị cười, nốt tàn nhang lặn đi trên gò má đỏ ửng. Chị 
cười nói nhiều, chắc tính chị vốn sôi nổi, cũng có thể là vì hào hứng với chuyến đi 
giúp bà con xã tôi nên chị vui như thế.
 (Theo Bùi Hiển) Người được tả trong đoạn văn là ai?
Những từ ngữ nào làm nổi bật đặc 
điểm ngoại hình hoặc hoạt động của 
người đó?
Trong mỗi đoạn văn, chi tiết nào gây 
ấn tượng với em? a. Ông nội của Nhụ đã tám mươi tuổi, nhưng vóc người vẫn gọn và chắc, 
dáng đi dứt khoát như một ngọn sóng. Ông có nước da nâu sẫm, ghi 
dấu ấn của cả một đời chèo thuyền trên mặt biển. Mỗi khi kết thúc một 
câu nói, ông thường dùng tiếng “hầy”. Đó là tiếng hô chèo thuyền của 
người dân chài xưa lúc trời sắp có dông. Ông thường ra hiệu bằng mắt 
và bằng tay. Ở trên biển thì đó là một điều rất bình thường. Nhưng ở 
nhà, ông cũng “nói” theo cách đó. Dần dần, con cháu cũng quen.
 (Theo Trần Nhuận Minh)
 Người được tả trong đoạn văn là ông nội 
 của Nhụ. a. Ông nội của Nhụ đã tám mươi tuổi, nhưng vóc người vẫn gọn và chắc, dáng đi 
dứt khoát như một ngọn sóng. Ông có nước da nâu sẫm, ghi dấu ấn của cả một đời 
chèo thuyền trên mặt biển. Mỗi khi kết thúc một câu nói, ông thường dùng tiếng 
“hầy”. Đó là tiếng hô chèo thuyền của người dân chài xưa lúc trời sắp có dông. Ông 
thường ra hiệu bằng mắt và bằng tay. Ở trên biển thì đó là một điều rất bình 
thường. Nhưng ở nhà, ông cũng “nói” theo cách đó. Dần dần, con cháu cũng quen.
 (Theo Trần Nhuận Minh)
 Ngoại hình: Vóc người vẫn gọn và chắc, dáng đi dứt 
 khoát như một ngọn sóng, nước da nâu sẫm; Hoạt 
 động: Ông thường dùng tiếng “hầy” để kết thúc một 
 câu nói, ông thường ra hiệu bằng mắt và bằng tay cả 
 khi trên biển và khi ở nhà. a. Ông nội của Nhụ đã tám mươi tuổi, nhưng vóc người vẫn gọn và chắc, 
dáng đi dứt khoát như một ngọn sóng. Ông có nước da nâu sẫm, ghi 
dấu ấn của cả một đời chèo thuyền trên mặt biển. Mỗi khi kết thúc một 
câu nói, ông thường dùng tiếng “hầy”. Đó là tiếng hô chèo thuyền của 
người dân chài xưa lúc trời sắp có dông. Ông thường ra hiệu bằng mắt 
và bằng tay. Ở trên biển thì đó là một điều rất bình thường. Nhưng ở 
nhà, ông cũng “nói” theo cách đó. Dần dần, con cháu cũng quen.
 (Theo Trần Nhuận Minh)
 Chi tiết em ấn tượng: Ví dụ: Mỗi khi kết thúc một 
 câu nói, ông thường dùng tiếng “hầy”. b. Mẹ dẫn tôi về thăm ngoại. Nghe tiếng tôi từ ngoài ngõ, ngoại lập 
 cập chạy ra cửa, dang hai tay đón tôi ngả vào. Ngoại mừng vui đến 
 nỗi không ngăn được những giọt nước mắt rơi trên đôi má nhăn 
 nheo. Ngoại ôm chặt tôi vào lòng, rồi ngoại dẫn tôi ra sau vườn, 
 cho tôi tự tay hái những trái bưởi, trái xoài vàng ươm trên những 
 cành chỉ la đà ngang mắt tôi. Tôi biết là ngoại để dành những trái 
 cây sà thấp xuống như thế cho tôi về hái.
 (Theo Lê Văn Trường)
Người được tả trong đoạn văn là bà ngoại 
của bạn nhỏ. b. Mẹ dẫn tôi về thăm ngoại. Nghe tiếng tôi từ ngoài ngõ, ngoại lập 
 cập chạy ra cửa, dang hai tay đón tôi ngả vào. Ngoại mừng vui đến 
 nỗi không ngăn được những giọt nước mắt rơi trên đôi má nhăn 
 nheo. Ngoại ôm chặt tôi vào lòng, rồi ngoại dẫn tôi ra sau vườn, 
 cho tôi tự tay hái những trái bưởi, trái xoài vàng ươm trên những 
 cành chỉ la đà ngang mắt tôi. Tôi biết là ngoại để dành những trái 
 cây sà thấp xuống như thế cho tôi về hái.
 (Theo Lê Văn Trường)
Đoạn văn tập trung miêu tả tình cảm, cảm 
xúc, cử chỉ, việc làm của bà khi con cháu về 
thăm. b. Mẹ dẫn tôi về thăm ngoại. Nghe tiếng tôi từ ngoài ngõ, ngoại lập 
 cập chạy ra cửa, dang hai tay đón tôi ngả vào. Ngoại mừng vui đến 
 nỗi không ngăn được những giọt nước mắt rơi trên đôi má nhăn 
 nheo. Ngoại ôm chặt tôi vào lòng, rồi ngoại dẫn tôi ra sau vườn, 
 cho tôi tự tay hái những trái bưởi, trái xoài vàng ươm trên những 
 cành chỉ la đà ngang mắt tôi. Tôi biết là ngoại để dành những trái 
 cây sà thấp xuống như thế cho tôi về hái.
 (Theo Lê Văn Trường)
Chi tiết em ấn tượng: Ví dụ: Nghe tiếng tôi 
từ ngoài ngõ, ngoại lập cập chạy ra cửa, 
dang hay tay đón tôi ngả vào. c. Chị Hà là một thành viên trong đoàn thanh niên của huyện đến giúp xã tôi chống 
úng ở cánh đồng chuẩn bị cấy giống lúa mới. Trông chị thật xinh tươi: nước da 
trắng, môi hồng, tóc mai dài vắt cong lên như một dấu hỏi lộn ngược. Trên má chị 
có vài nốt tàn nhang. Mỗi khi chị cười, nốt tàn nhang lặn đi trên gò má đỏ ửng. Chị 
cười nói nhiều, chắc tính chị vốn sôi nổi, cũng có thể là vì hào hứng với chuyến đi 
giúp bà con xã tôi nên chị vui như thế.
 (Theo Bùi Hiển)
 Người được tả trong đoạn văn là chị Hà, một 
 thành viên trong đoàn thanh niên của huyện 
 về giúp đỡ dân làng chống úng. c. Chị Hà là một thành viên trong đoàn thanh niên của huyện đến giúp xã tôi chống 
úng ở cánh đồng chuẩn bị cấy giống lúa mới. Trông chị thật xinh tươi: nước da 
trắng, môi hồng, tóc mai dài vắt cong lên như một dấu hỏi lộn ngược. Trên má chị 
có vài nốt tàn nhang. Mỗi khi chị cười, nốt tàn nhang lặn đi trên gò má đỏ ửng. Chị 
cười nói nhiều, chắc tính chị vốn sôi nổi, cũng có thể là vì hào hứng với chuyến đi 
giúp bà con xã tôi nên chị vui như thế.
 (Theo Bùi Hiển)
 Ngoại hình: trông chị xinh tươi, nước da trắng, môi hồng, 
 tóc mai dài vắt cong lên như một dấu hỏi lộn ngược, có vài 
 nốt tàn nhang trên má; hoạt động: chị cười nói nhiều, mỗi 
 khi cười nốt tàn nhang lặn đi trên gò má đỏ ửng; tính tình: 
 chắc tính chị vốn sôi nổi, cũng có thể hào hứng với chuyên 
 đi giúp bà con nên chị vui như thế. c. Chị Hà là một thành viên trong đoàn thanh niên của huyện đến giúp xã tôi chống 
úng ở cánh đồng chuẩn bị cấy giống lúa mới. Trông chị thật xinh tươi: nước da 
trắng, môi hồng, tóc mai dài vắt cong lên như một dấu hỏi lộn ngược. Trên má chị 
có vài nốt tàn nhang. Mỗi khi chị cười, nốt tàn nhang lặn đi trên gò má đỏ ửng. Chị 
cười nói nhiều, chắc tính chị vốn sôi nổi, cũng có thể là vì hào hứng với chuyến đi 
giúp bà con xã tôi nên chị vui như thế.
 (Theo Bùi Hiển)
 Chi tiết em ấn tượng: Ví dụ: Trông chị thật xinh 
 tươi: nước da trắng, môi hồng, tóc mai dài vắt 
 cong lên như một dấu hỏi lộn ngược. 2. Dựa vào dàn ý trong hoạt động Viết ở Bài 4, viết đoạn văn 
 tả một người thân trong gia đình em hoặc một người đã để 
 lại cho em những ấn tượng tốt đẹp. Ví dụ: Một tháng trước gia đình em đã đón chào một thành 
viên mới, đó là bé Bảo Anh. Mới sinh ra Bảo Anh nhỏ xíu, chân 
tay ngắn ngủi tròn tròn nhìn vô cùng đáng yêu. Bé có nước da 
hồng hào giống mẹ, đôi mắt to tròn đen lúng liếng, chiếc miệng 
nhỏ hồng hồng lúc nào cũng chu lên. Bảo Anh là một em bé rất 
hiếu động, tay nhỏ chân nhỏ lúc nào cũng ngọ nguậy, đôi mắt 
xinh xắn luôn nhìn chăm chú vào người đối diện như muốn trò 
chuyện. Mỗi khi đói bé sẽ khóc thật to để thu hút sự chú ý của 
mẹ, đến khi no bụng lại thỏa mãn cười toe rồi chìm vào giấc 
ngủ. Từ khi có thêm thành viên mới, gia đình em ai nấy đều 
cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc. Em sẽ cùng với bố mẹ yêu thương, 
chăm sóc thật tốt cho Bảo Anh. 

File đính kèm:

  • pptxbai_giang_tieng_viet_5_ket_noi_tri_thuc_viet_doan_van_ta_ngu.pptx